Giới thiệu cây bút trẻ: Nguyễn Thành Đạt

VANTHO - Cây bút trẻ Nguyễn Thành Đạt sinh năm 2006 ở Đồng Tháp, đang theo học ngành Giáo dục Công dân tại Trường Đại học Đồng Tháp.

Cây bút trẻ Nguyễn Thành Đạt được kết nạp Hội viên CLB Văn thơ Trường Đại học Đồng Tháp tháng 09/2026.

Cây bút trẻ Nguyễn Thành Đạt ở Đồng Tháp

KHI NHỮNG KHOẢNG TRỐNG NỞ HOA

Chiều muộn. Nắng đã rút dần khỏi những tán xà cừ cổ thụ trước sân trường, để lại một mảng không gian loang lổ sắc hoàng hôn tĩnh lặng. Gió từ mặt sông thổi vào lồng lộng, mang theo thứ mùi ngai ngái của bùn non mùa nước nổi và hương hoa tràm thoang thoảng.

Thu ngồi lại một mình trong phòng giáo viên. Không gian tĩnh lặng chỉ còn tiếng lật giấy loạt soạt và tiếng quạt trần quay đều đều. Trước mặt cô là xấp hồ sơ dự án học tập của lớp 10A2 môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật. Là một giáo viên trẻ, Thu luôn khao khát mang những phương pháp giáo dục hiện đại nhất vào bục giảng. Cô áp dụng phương pháp dạy học dự án, thức trắng nhiều đêm để soạn những kế hoạch bài dạy chi tiết và xây dựng các bảng tiêu chí đánh giá định lượng một cách khoa học nhất. Từ năng lực giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, đến kỹ năng hợp tác, tất cả đều được cô thiết kế và số hóa thành những ô vuông rành mạch, những thang điểm rõ ràng.

Thu đại diện cho thế hệ những nữ nhà giáo thời đại mới: làm việc bằng lý trí sắc sảo, tư duy logic và tiếp cận công nghệ giáo dục một cách nhanh nhạy. Nhưng hôm nay, mọi thang đo định lượng kiêu hãnh của cô dường như sụp đổ trước một khoảng trống.

Đó là hồ sơ của Vy. Khác với những bài báo cáo được đánh máy cẩn thận, thiết kế đồ họa bắt mắt của các nhóm khác, phần tự luận cá nhân của Vy chỉ là một tờ giấy đôi kẻ ngang ố vàng, mỏng dính. Trên đó, thay vì phân tích về “Quyền bình đẳng của công dân trong lao động” như yêu cầu của dự án, chỉ có một dòng chữ được nắn nót bằng mực tím, nhòe đi vì một giọt nước vô hình nào đó từng rơi xuống:

“Cô ơi, tha lỗi cho em. Dự án này em không làm được. Ngày mai em xin phép nghỉ học. Em phải đi làm công ty...”

Thu tựa lưng vào ghế, nghe sống mũi mình cay xè. Cô nhắm mắt lại, mường tượng ra khuôn mặt của Vy. Một cô bé có dáng người gầy nhom, nước da ngăm đen vì nắng gió đồng bằng, nhưng lại sở hữu đôi mắt sáng rực rỡ và thông minh đến kỳ lạ. Vy luôn là người giơ tay phát biểu đầu tiên trong những giờ học về quyền con người, về luật lao động. Vậy mà giờ đây, cô bé ấy lại tự tước đi quyền được học của chính mình để bước vào guồng quay khắc nghiệt của mưu sinh.

Bạn bè Thu thường bảo cô gàn dở. Cầm tấm bằng xuất sắc của một trường đại học danh tiếng, Thu có đủ mọi bệ phóng để tiến xa ở chốn phồn hoa đô hội. Cô có thể dễ dàng trụ lại thành phố lớn, làm việc trong những viện nghiên cứu giáo dục máy lạnh phả đều, khoác lên mình những bộ đồ công sở thời thượng và tận hưởng một cuộc sống độc thân kiêu hãnh. Thậm chí, đã có người ngỏ lời muốn lo cho cô một bến đỗ bình yên, sung túc, chỉ cần cô lùi lại phía sau cánh cửa gia đình. Nhưng Thu từ chối. Cô xách vali trở về quê, chọn phấn trắng, bảng đen, chọn những chuyến phà tròng trành vỗ sóng và những lứa học trò nghèo.

Nhiều người đóng khung vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong hai chữ “hy sinh” - một sự hy sinh mang tính cam chịu và nhẫn nhịn. Nhưng với Thu, lựa chọn trở về không phải là cam chịu. Đó là bản lĩnh. Bản lĩnh của một người phụ nữ độc lập, dám cất tiếng nói cho những giá trị mà mình tin tưởng. Cô muốn dùng trí tuệ và sự tự chủ của mình để gieo những hạt mầm tử tế trên mảnh đất khô cằn. Thu nhận ra rằng, tri thức sẽ chỉ là những dòng chữ chết trên giấy nếu nó không chạm được vào nỗi đau và hiện thực cuộc sống của những đứa trẻ nơi đây.

Thu dắt chiếc xe máy cũ ra khỏi cổng trường. Con đường đất dẫn vào xóm trọ nghèo ngoại ô xóc nảy, ngoằn ngoèo bám theo triền đê. Hai bên đường, những bụi hoa điên điển nở vàng rực, chênh vênh mà kiên cường bám rễ vào đất phèn.

Căn nhà của Vy nằm sâu trong một con hẻm nhỏ, mái tôn cũ kỹ rỉ sét hắt ra thứ ánh sáng lờ mờ của bóng đèn sợi đốt. Thu bước vào, bắt gặp hình ảnh mẹ Vy đang cặm cụi bóc từng hạt điều mướn bên ánh đèn vàng ệch. Người đàn bà trạc ngũ tuần nhưng dáng vẻ đã tiều tụy như một bà lão, mái tóc điểm bạc xõa xượi, đôi bàn tay đen nhẻm, chằng chịt những vết nứt nẻ rớm máu vì nhựa điều. Thấy cô giáo đến, bà vội vã lau tay vào vạt áo sờn cũ, luống cuống đứng dậy vấp cả vào chiếc thau nhôm.

“Dạ... cô giáo đến thăm. Nhà cửa bừa bộn quá, cô thông cảm cho mẹ con tôi...” Giọng bà run run, mang theo cả sự nghèo khó lẫn mặc cảm.

Vy từ dưới bếp bước lên, thấy Thu, cô bé cúi gầm mặt, đôi vai nhỏ bé rụt lại như một con chim sẻ trúng gió.

Thu ngồi xuống chiếc ghế nhựa đã sứt một chân, ánh mắt ấm áp lướt qua hai mẹ con. Cô không dùng giọng điệu của một giáo viên đến để trách phạt, cũng không mang sự bề trên của người có học thức đi rao giảng đạo lý. Cô bắt đầu câu chuyện bằng một sự thấu cảm sâu sắc nhất của một người phụ nữ dành cho một người phụ nữ.

“Chị ạ” Thu nhẹ nhàng nắm lấy đôi bàn tay đầy vết nứt của mẹ Vy, “em nhận được giấy xin phép của Vy rồi. Em biết chị thương con, và Vy cũng rất thương chị. Sự hiếu thảo của con bé là viên ngọc quý nhất mà chị có được. Nhưng chị ơi, ép một viên ngọc phải chịu áp lực của một hòn đá mài thô bạo quá sớm, ngọc sẽ vỡ.”

Mẹ Vy bật khóc, những giọt nước mắt mặn chát lăn trên gò má hóp nhô xương. “Cô giáo ơi, tôi cũng đứt ruột đứt gan chứ. Ba nó mất sớm, tôi bệnh tật liên miên, tiền thuốc men ngày một nhiều. Thằng út lại còi cọc. Con Vy nó bảo, mẹ để con đi làm công nhân may cho khu công nghiệp trên tỉnh, tháng cũng được vài triệu phụ mẹ. Chữ nghĩa đâu làm no cái bụng ngay được hở cô?”

Thu hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô trĩu nặng, nhưng lý trí của một người dạy Pháp luật kinh tế không cho phép cô ủy mị. Cô nhìn thẳng vào mắt người mẹ, giọng nói kiên định, rành rọt nhưng chứa chan tình cảm:

“Chị nghĩ đi làm công ty lúc này là lối thoát, nhưng thực chất nó là ngõ cụt. Vy năm nay mới mười sáu tuổi. Theo Bộ luật Lao động, con bé chưa đủ tuổi thành niên để ký hợp đồng lao động chính thức. Nếu đi làm, con bé chỉ có thể làm chui, không có bảo hiểm y tế, không có bảo hiểm xã hội. Làm việc tăng ca mười mấy tiếng một ngày trong môi trường độc hại, sức khỏe con bé sẽ bị vắt kiệt. Nếu lỡ có tai nạn lao động xảy ra, ai sẽ là người đứng ra bảo vệ quyền lợi cho con bé? Lúc đó, không những không lo được cho chị, mà cả tương lai của Vy cũng bị đóng sập lại.”

Thu ngừng lời, để những phân tích thực tế thấm vào tâm trí người mẹ. Cô quay sang Vy, dịu giọng: “Dự án trên lớp của chúng ta về quyền lao động, em đã hiểu rất rõ cơ mà? Tại sao em lại tự tước đi cái quyền được pháp luật bảo vệ của chính mình? Khát vọng sống không phải là nhắm mắt ném mình vào vòng xoáy mưu sinh bằng mọi giá, mà là biết đứng vững và tìm cách đi đường dài, em ạ.”

Cả không gian tĩnh lặng, chỉ còn tiếng thở dài thườn thượt của gió lùa qua khe liếp.

“Em không muốn nhìn học trò của mình, những đứa trẻ đầy tiềm năng, lại phải chôn vùi thanh xuân bên những cỗ máy khâu vô tri chỉ vì cái nghèo” Thu nói, tay rút từ trong túi xách ra một xấp phong bì. “Em không đến đây chỉ để khuyên suông. Em đã liên hệ với Ban giám hiệu và quỹ cựu học sinh, trường sẽ cấp cho Vy một suất học bổng toàn phần đến hết năm lớp 12. Ngoài ra, bạn em mở một tiệm sách trên thị xã đang cần người quản lý kho vào chiều tối. Công việc nhẹ nhàng, an toàn, Vy có thể làm thêm từ 5 giờ chiều đến 8 giờ tối. Số tiền lương đó đủ để phụ giúp chị lo thuốc men và tiền ăn học cho em út. Xin chị, hãy cho con bé một cơ hội để tự thay đổi cuộc đời mình bằng tri thức.”

Nghe đến đó, Vy òa khóc nức nở. Con bé nhào tới, ôm chầm lấy Thu. Những giọt nước mắt nóng hổi ướt đẫm vai áo sơ mi của người giáo viên trẻ. Mẹ Vy cũng run rẩy, chắp hai tay lại định lạy Thu nhưng cô vội vàng đỡ lấy. Trong ánh sáng mờ ảo của căn nhà dột nát, Thu thấy lòng mình nhẹ bẫng, một niềm hạnh phúc trong trẻo trào dâng râm ran khắp huyết quản.

Trên đường chạy xe về lại trường, trời đã tối mịt. Ánh trăng mười sáu lấp ló sau những rặng bần, rọi thứ ánh sáng bàng bạc xuống mặt sông lấp lánh. Thu nghe gió lùa qua mái tóc mình, mang theo một sức sống mãnh liệt.

Cô chợt nghĩ về những người phụ nữ Việt Nam trong đời sống hiện đại. Họ đang dần bước ra khỏi những định kiến xưa cũ. Họ không còn chỉ là những cái bóng lặng lẽ thu mình sau cánh cửa bếp, cũng không cần phải gồng mình trở thành những bức tượng đài vô cảm của sự vĩ cuồng. Vẻ đẹp của họ trong thời đại mới lấp lánh ở sự dung hòa tuyệt diệu: trí tuệ sắc sảo để phân tích và giải quyết vấn đề, bản lĩnh vững vàng để tự chủ trước mọi giông bão, và một trái tim đủ rộng lớn để bao dung, che chở.

Tối hôm đó, Thu mở lại file bảng tiêu chí đánh giá trên máy tính. Ở cột điểm của Vy, thay vì để trống hay đánh một con số không tròn trĩnh, Thu mỉm cười gõ vào dòng chữ: “Dự án được gia hạn. Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn: Xuất sắc”.

Cô nhận ra rằng, triết lý giáo dục vĩ đại nhất không nằm trong những ma trận điểm số vô hồn hay những thông tư quy định cứng nhắc. Nó nằm ở khả năng thấu hiểu và nâng đỡ một con người. Và những người phụ nữ như Thu, bằng cách này hay cách khác, vẫn đang lặng lẽ dùng cả cuộc đời mình để viết lên những giáo án không có trên bục giảng - giáo án của tình yêu thương, sự kiên định và khát vọng kiến tạo một tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ mai sau.

NGUYỄN THÀNH ĐẠT

Đăng nhận xét